Trần Phương Nhã (Q.Tân Bình) Ảnh minh họa. Nguồn: Internet. Giải đáp:chúc thư do cha của bà để lại được xác định là chúc thư bằng văn bản. Điều 650 Bộ luật Dân sự quy định, chúc thư bằng văn bản có thể được lập dưới các hình thức sau: 1) di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; 2) di chúc bằng văn bản có người chứng; 3) chúc thư bằng văn bản có công chứng; 4) chúc thư bằng văn bản có chứng thực. Với quy định trên, cha của bà đã tuyển lựa hình thức lập chúc thư bằng văn bản không có người làm chứng và đây là hình thức lập chúc thư được quy định cụ thể tại điều 655 Bộ luật Dân sự, như sau: “Người lập chúc thư phải tự tay viết và ký vào bản chúc thư”. Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng phải tuân theo quy định tại điều 653 Bộ luật Dân sự: “1. Di chúc phải ghi rõ: A) Ngày tháng năm lập di chúc; B) Họ tên và nơi ngụ của người lập di chúc; C) Họ tên người được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân được hưởng di sản; D) Di sản để lại và nơi có di sản; Đ) Việc chỉ định người thực hành bổn phận và nội dung của bổn phận. 2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu chúc thư gồm nhiều trang phải được đánh số trật tự và có chữ ký hoặc lăn tay của người lập chúc thư”. Với hình thức văn bản trên, di chúc được coi là hợp pháp khi có đủ các điều kiện theo khoản 1 điều 652 Bộ luật Dân sự: A) Người lập di chúc sáng láng, sáng láng trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép; B) Nội dung chúc thư không trái luật pháp, đạo đức tầng lớp; hình thức chúc thư không trái quy định của luật pháp . Bởi thế, bà cần đối chiếu hình thức và nội dung di chúc của cha với các quy định nêu trên để xác định tính hợp pháp của di chúc. LS Trương Thị Hòa |
Thứ Tư, 7 tháng 8, 2013
Di truyền hình chúc viết tay không công chứng, có được xác nhận?
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét