Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

Gặp Thạch mách nhỏ Lam ở Cẩm Giàng.

Truyện không có chuyện mà chữ có hồng cầu, Thạch Lam như Ivan Bunin (1870 - 1953) của Nga, văn khiết tình, thê mỹ. Hai đoàn tàu sẽ tránh nhau tại ga chính Hải Dương, qua ga xép Cẩm Giàng. Tiếng đàn run theo bác Xẩm não nuột.

Thạch Lam mãi tuổi 32 sắp dắt tôi về gặp hai đứa trẻ, vẫn quầy hàng xén cổng trại Cẩm Giàng, bên ga Không - Thời gian. Dừng lại, đoàn tàu mang ánh sáng đế đô qua đây vài phút là chạy về Hải Phòng, Kinh Kỳ kẻ chợ phồn hoa, chị em Liên, An đã sống, nhớ và hằng mong trở lại. May thế, hay nhờ 71 năm qua, Cẩm Giàng vẫn Thạch Lam. Mọi tác phẩm hầu hết in trên báo của anh em ông, mà Thạch Lam là chủ bút hiện tại, từ 1935, khi ông lấy vợ lúc 25 tuổi ở Hà Nội.

Thạch Lam bước ra, rẽ trái, rảo tới ga Long Biên. Ông bà Nhu - Sâm sinh bảy con (sáu trai, một gái), thì có ba con trai theo nghiệp văn chương, dù chết trẻ, tên tuổi để đời: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam, 1905 - 1963), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long, 1906 - 1948), Thạch Lam (1910 - 1942).

Tiếng chim hót trong veo, không gian trinh tĩnh quá, chạm cả hơi thở nhẹ. Tấm áo bông khi “gió lạnh đầu mùa” vẫn ấm tay người. “Mỗi truyện là một bài thơ trữ tình đầy xót thương” (1). Mỗi chữ Thạch Lam là sương ngọc, từ tâm hồn nhạy cảm, nước mắt cho ta thanh lọc tinh thần. Khu nào, phố nào, làng nào cũng có vài kẻ điên. Phố Quán Thánh, Hà Nội đường một chiều, tôi ngược hò bên trái, dừng chân trước nhà 80, trụ sở báo Phong hóa, hiện tại, NXB Đời nay 80 năm trước.

“Cô hàng xén” Tâm chịu đựng, hy sinh đang đến, vỗ về thông cảm “Nhà mẹ Lê” đông con, khốn cùng. Sắp đến chuyến tàu chót 18 giờ 10 xuất hành về Hải Phòng; 18 giờ 40 chuyến ngược lại. Bà Thi điên cười chuệch choạc vào bóng tối.

Một dúm sầm uất là mấy hiệu “khách” - tiệm buôn của người Hoa. Đấy là tái hiện hình ảnh chị Thế và em Sáu (Nguyễn Tường Lân - Thạch Lam) lúc nhỏ, được mẹ giao quầy bán đồ vặt vãnh, thuốc lào khi mẹ mải mốt tần tảo, cân gạo quanh vùng; cha mất sớm, anh cả Tường Thụy dạy học ở Tân Đệ (yên bình).

TLVĐ có tuần báo Phong hóa, hiện tại cuộn các trụ cột của văn chương xứ Bắc, có giải thưởng uy tín riêng mình (trao ba lần 1935 - 1937 - 1939, bảo chứng danh giá cho sự nghiệp của người đoạt giải), tạo ra dòng tiểu thuyết TLVĐ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhiều cây bút, trong đó có Vũ Trọng Phụng.

Tháng 9, độ giữa thu, mùa cưới bắt đầu, cũng mùa hò hẹn nhung nhớ. Nhưng mãi mãi, chị em Nhung - Giang không thể là “hai đứa trẻ” như cha và bác thuở nào. Tùy bút của VI LI. Phút chốc, chúng tôi là đứa trẻ. Đâu cần nói gì. Chúng tôi lặng im. Heo may vấn tóc sao bỗng “gió lạnh đầu mùa”. Thạch Lam tuyên ngôn: “văn học là thứ khí giới thanh cao, đắc lực vừa cáo giác và thay đổi một thế giới giả dối, tâm ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Hoa sữa lắng, đưa say hương hoàng lan. Hạnh phúc tôi nhòa lệ. Bao lăm lượt, đoàn tàu đã qua ga xép này, nào ai đếm nổi? Ga đời không tính chuyến.

Dù viết về những phận nghèo, thị dân hay dân áo ngắn lam lũ phố huyện, văn Thạch Lam vẫn đậm chất thơ. Dáng gầy đang nhả thuốc dưới tán nhãn vươn cao, thỉnh thoảng tay trái đỡ ngực, ghìm cơn ho song khuôn mặt ông thật thư thái và ánh nhìn dịu dàng.

Toàn bộ các cuốn sách của Thạch Lam đều in NXB Đời nay, tuyệt phẩm tùy bút Hà Nội băm sáu phố (1943) bất hủ cho Hà Nội phồn hoa có những phận còng như bác Dư phu xe phố Hàng Bột, có Thanh và Nga với bà nội và cây hoàng lan ở làng ngoại ô, những phố nghề, cửa hiệu trứ danh, những giai nhân, nếp thanh lịch, nhã thú biểu hiện bằng thứ văn tinh tế khôn xiết duy mỹ, duy tình, trầm tĩnh mà chất chứa xót thương con người, cuộc sống.

Thạch Lam hình như tuổi 32 hay không tuổi, đang ở khu vườn ấy, chờ tôi. Nuôi ý nghĩ về Trại Cẩm Giàng từ hồi thiếu nữ, tôi cứ tin Thạch Lam ở đấy, ông vẫn sống với những gì ông thương mến và chờ người thương văn học ông.

Ở Hà Nội, bỏ dở Cao đẳng Canh nông, Tường Lân vào Trung học Albert Sarraut học thi tú tài, đỗ phần thứ nhất thì bỏ học làm báo với hai anh. Còi hỏa xa rất gần hồi hồi hối thúc.

Mỗi chữ Thạch Lam là sương ngọc, từ tâm hồn mẫn cảm, nước mắt cho ta thanh lọc tinh thần. Thạch Lam tuyên ngôn: “văn học là thứ khí giới thanh cao, đắc lực vừa cáo giác và thay đổi một thế giới dối trá, tâm ác, làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”.

Chiều về, phố huyện lộ tiêu điều, buồn tẻ khi chợ tàn. Chị em Liên và An, trông quầy hàng xén gần ga xép phố huyện buồn. Men rượu, hòa mùi lá tươi xanh và hương hoa ân cần. Tôi đến gần Thạch Lam, nhìn sâu tuỳ nhi ông, nắm chặt đôi bàn tay ngón dài mềm ấm. Mất sớm nhất, song tác phẩm của Thạch Lam có sinh khí bền tỏa nhiều hơn các anh mình. Thạch Lam dắt tôi tới bữa qua, hồi học Hai đứa trẻ.

Rồi cậu bé Lân khai tăng tuổi, học nhảy lớp lên bậc thành chung (cấp 2) mong sớm đỡ đần cho mẹ. Chào đời, qua đời mùa Hè, mà văn ông “đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhàng, thơm tho và mát dịu” (2). Thạch Lam viết truyện cho thiếu nhi, truyện dài, tiểu luận, bút ký viết theo lối tùy bút; khiến người đọc khóc và nhớ lâu, chính do truyện ngắn.

Nguồn vui độc nhất vô nhị mỗi ngày của họ, là ngóng và ngắm đoàn tàu từ Hà Nội chạy qua. Thế Uyên, con chị gái Nguyễn Thị Thế và Tường Giang, con út Thạch Lam, mồ côi cha lúc sơ sinh, đều thành nhà văn trên đất Mỹ. “Nhà ánh sáng” Cẩm Giàng không còn, “nhà cây liễu” Hà Nội đã mất, Thạch Lam ngủ trong đất thiêng Hà Nội (Nghĩa trang Hợp Thiện, gần Ô Đống Mác) Hè 1942, vì lao phổi.

Bối cảnh với những con người là nguyên mẫu truyện Thạch Lam, là ga, là phố, là trại, là không gian nghệ thuật phá vỡ giới hạn địa lý, để lưu danh văn chương sử, theo trí nhớ các đời bạn đọc. Cẩm Giàng tẻ nhạt, trật chỉ sáng lóe lên nhờ ánh sáng đoàn tàu.

Bối cảnh các truyện ngắn xuất sắc nhất của nhà văn là máu thịt của đời ông, đã thành địa danh lịch sử và huyền thoại. Men theo lối đi rải đá ven đường xe lửa, tôi như đặt bước lên dấu chân Thạch Lam các anh trai ông và các văn tài hơn 70 năm trước.

Còi hỏa xa, bánh sắt sình sịch chậm dần. Đang Thu, tháng 9 mùa tựu trường, chúng tôi nhớ thời hoa niên đi học. Thạch Lam đã uống rượu cùng Thế Lữ, Khải Hưng, thành viên TLVĐ cùng các thi hữu ở đây Tết Nhâm Ngọ 1942. Biết còn mấy lần về thăm Cẩm Giàng cũ nữa, mong lần đầu không phải lần cuối, rời xa.

Lại nhà xây, ao hồ nhân tạo, không còn chỗ lưu giữ khu vườn. Hiện giờ, tôi đang đứng dưới tấm biển, kề bên là pa-no phối cảnh Công viên lưu niệm Tự Lực văn đoàn (TLVĐ). Thị trấn Cẩm Giàng vẫn bé nhỏ và còn yên tĩnh. Kìa chị Tí, cả ngày mò cua bắt tép, đã thắp ngọn đèn lù mù thiên lí bán nước qua ngày, trông nhờ hành khách ghé thoáng chốc, nhịp sống lẩn quẩn, đơn điệu.

Bà Tường Nhung, con gái Thạch Lam nay 75 tuổi, đã vài lần trở lại Cẩm Giàng, thăm chốn quê thơ từ.

________________________ (1), (2) Nhận định của Nguyễn Tuân. Hầu khắp chốn, nơi đâu cũng chật đi vì đông lên. Rộng lượng, lãng mạn chất tỏa theo dòng văn đập mạch thương tình vào sâu nội tâm chúng ta, lưu lại và thức cùng ký ức. Năm 1954, vợ ông đưa các con vào Sài Gòn. Nhà mái lá của chị gái nhường cho, tại đầu đường Yên Phụ, nơi Thạch Lam trồng cây liễu, sống, viết, tao đàm cùng bạn hữu và chết thật.

Thường đi - về Hải Phòng - Hà Nội chuyến sáng - chiều khi đứng cửa toa, lúc tại sân ga, tôi chỉ thấy hàng rào cây um tùm và biển xanh chữ trắng: Tự Lực văn đoàn (1932 - 1942). Bác phở Siêu gánh thức quà xa xỉ càng gợi nhớ Hà thành, chốn lắm hiệu phở mà phở rong vẫn đắt khách, chẳng như đây. Quá sâu cho một nung nấu này, hay cảm động về mối tương giao trái tim đa cảm và trận mưa sáng Hà Nội tới Cẩm Giàng.

Trái tim nhân hậu giàu tình cảm ấy, bằng văn tài độc đáo, khiến phố huyện, quê nghèo cũng trở thành sang sạch vì sự che chở, sẻ chia nhờ hóa thân của Thạch Lam vào nhân vật, bên họ mỗi cảnh đời. Tâm hồn nhân ái và thánh thiện của Thạch Lam, đang đón tôi vào khu vườn liên hồi diệp lục.

Găng chín, duối vàng, mùi cây thoảng dịu an ủi triệu khuân mặt nhòa - rõ của album thế gian. Không còn ngôi nhà gỗ, cột vuông, lan-can gỗ, cửa quay bốn phía, nhưng “nhà ánh sáng” mà mẹ nhà văn cho xây dựng, ngôi nhà đã vào văn chương sử, vẫn hiện dần ra trong sương thu và ánh sáng ven hình ảnh ký ức.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét