Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2013

Chóe, người làm “nghề cười” rất có nghề



Nói chung, nhiều người (bạn đọc báo và tình nhân hội họa) chỉ biết đến Chóe với tư cách là họa sĩ, họa sĩ vẽ tranh biếm. Là người thận trọng và rạch ròi với nghề, Chóe chưa thích cách gọi như thế. Ông đã từng tự trào: “Tôi là một vai hề trong hội họa nên cũng biết vẽ, dù cái nghề “hề vẽ” này ở nước ta không có trường lớp, không có thầy dạy…”. Chóe từ lâu đã kiên trì gọi là HÍ HỌA: Vì nó là “con đường rộng và lòng ta rộng theo. Còn gọi nó là “biếm họa” thì con đường hẹp lại và lòng ta cũng bị ảnh hưởng bởi diện tích con đường” (Trò chuyện với người bạn trẻ về hí họa, tr207, 208). Tôi thấy quan niệm của Chóe được mô tả một cách rất Tây và rất “văn chương” này là đáng thuyết phục. Nếu tôi không nhầm thì trước năm 1975, báo chí miền Bắc có hai loại tranh, tranh vui - là để “phê bình, góp ý, cười… vui” về nội bộ quần chúng. #, Còn tranh công kích - thì tất nhiên là để chống các thế lực cừu địch. Ngày ấy, loại thể tranh này không thật trổi và người vẽ thường bị xếp chiếu dưới, không được coi là họa sĩ thực thụ. (Trong khi đó nếu xem “Lý Toét, Xã Xệ” trên Báo Phong Hóa- hiện tại của nhóm Tự lực văn đoàn trước cách mệnh Tháng 8 năm 1945 thì tác giả lại là các họa sĩ “Mỹ thuật Đông Dương” hẳn hoi, là loại bậc thầy của hội họa Việt Nam). Những nguyên do nào khiến các họa sĩ biếm họa ở miền Bắc trong cùng một thời lại không đạt đến đỉnh cao như các họa sĩ ở miền Nam như Chóe, như Ớt… chẳng hạn, khi họ cùng vẽ về đề tài chống Mỹ, chống chiến tranh, chống chế độ Sài Gòn… Chưa một họa sĩ biếm họa nào (cho phép tôi tạm dùng từ quen thuộc này) ở nước ta có một địa vị vững chãi như Chóe. Năm 1973, ông là một trong 8 họa sĩ biếm xuất sắc nhất thế giới thập kỷ 1970 do New York Times bình chọn. Tuần báo L’Hebbo của Pháp thì “dũng cảm” hơn nữa khi xếp Chóe cùng 5 người Việt Nam là 6 người tiêu biểu trong 20 năm (1975-1995)! Chóe từng có tuyển tập “The World of Choe” xuất bản tại Mỹ năm 1973. Ông triển lãm trang cá nhân chủ nghĩa tại một số nước và từng được Đức Giáo hoàng John Paul II tiếp tại Tòa thánh Vatican. Dù thế, những vinh diệu ấy không làm cho Chóe ngộ nhận và cũng không đủ để cho chúng ta dễ dãi tin tưởng. Vượt qua quơ những thứ xếp hạng, những ầm ĩ chúc tụng của triển lãm, những sự mời mọc bộc bạch quốc tế thì Chóe vẫn là Chóe, là họa sĩ biếm họa vào loại số một của Việt Nam. Tác phẩm của Chóe đã định danh nghệ thuật, đã xếp hạng cho chính ông mà không cần một bệ đỡ nào khác. 2. Rất nhiều người, khi còn là đứa trẻ, đã từng vẽ. Vẽ chơi. Chóe cũng vậy. Rồi đi cùng nghiệp vẽ suốt đời. Với hội họa, Chóe chỉ là người tự học. Sinh ra ở vùng quê, con nhà nghèo, 9 tuổi đã phải bỏ học kiếm sống. Mãi đến năm 17 tuổi mới được học nghề cấp tốc về hình họa và lăng xê, cốt chỉ để làm thợ. Năm 21 tuổi lên Sài Gòn, làm thơ, “làm thơ để tán gái”, rồi “viết đoản văn” và vẽ. Từ đấy dính vào một tờ báo bán nguyệt san. 25 tuổi bắt đầu vẽ tranh biếm, mà như ông nói: “Chỉ có những anh chàng liều mình hoặc điếc không sợ súng mới dám cầm bút vẽ (hí họa. YT) mà thôi” (Nụ cười hàm tiếu, tr 221). Cái nghề ấy dễ có tai nạn. Chóe đã từng hai lần đi tù ở cả hai chế độ. Lần sau này, ông mất đến gần 10 năm trời. Dĩ nhiên, khi về Chóe lại vẽ, lại làm báo. Bản chất là người “Lao Động” nên ông có cách để vượt qua mọi tình cảnh. Ngoài vẽ tranh biếm ông còn vẽ tranh “nghiêm chỉnh” từ lụa đến sơn dầu… Những người mua tranh ông chủ yếu là khách nước ngoài, có người biết tiếng ông từ trước, có khách chỉ là dân du lịch, mua tranh như một thứ souvenir. Nhờ thế mà ông nuôi được cả nhà, sắm được cả ô tô. Chẳng thể bảo tất tật những bức tranh thời ấy của ông đều là tác phẩm nghệ thuật, nhưng giống như tâm hồn thánh thiện của người vẽ, nó luôn hướng tới cái Đẹp, và vẫn mang đến cho người ta những nụ cười, những nụ cười ý nhị, nhân ái, trân trọng những gì mà cuộc sống dành tặng cho mỗi người. Điều tôi kinh ngạc và có lẽ nhiều người cũng thế là hiện mới biết Chóe ngoài vẽ, còn viết. Cũng từng là đồng nghiệp với ông ở Báo cần lao - dù ngắn ngủi - vậy mà tôi không biết gì nhiều về ông. Tôi ngại dùng cái từ “đa tài”, nay cũng là một căn bệnh của không ít người làm văn học, nghệ thuật ngộ nhận, hoang tưởng, háo danh… Họ làm đủ thứ, nhưng đều khá tệ, chỉ chưa leo lên dây làm xiếc vì còn đủ tỉnh táo và sợ ngã thật thì không đứng dậy được nữa, nhưng họ đã luôn bay lên giời bằng các loại hình nghệ thuật khác. Với Chóe, có lẽ ông viết văn, làm thơ, sáng tác ca khúc cùng với vẽ, là những tình yêu nghệ thuật từ thuở trai trẻ. Có những lúc, ông đầu thú nhận, viết là để tán gái, có những lúc ở tù không có việc gì làm, thì viết văn, làm thơ, phải tự học ký xướng âm, sáng tác ca khúc rồi “viết như một nhạc sĩ chuyên nghiệp, viết theo cả đơn đặt hàng”. Với cảm nhận riêng của tôi, phần Thơ ngắn (không biết ông có thơ dài, trường ca nữa không?) trong tập này, không thật ấn tượng. Ngay cả phần gọi là Truyện ngắn, thì có những “truyện ngắn” nên xếp vào mục Tạp văn, và có những truyện ngắn thông thường. Tuy nhiên, có những truyện ngắn hay mà chỉ có những ai trong những tình cảnh đau đớn như thế mới có thể viết được. Bằng anh tài, bằng niềm tin vào sự công bằng, nhân ái, nên Chóe đã có những truyện ngắn xứng đáng như một nhà văn thật sự. Và tôi, dù đã có bản sách này dăm tháng nay, vẫn tự để dành cho mình chiếc CD in các ca khúc tuyển của Chóe. Ăn dè, tiết kiệm đã là thành phần căn bản trong nhóm máu của tôi. Bởi tôi nghĩ đọc và xem, xem tranh, đọc sáng tác, tạp văn của ông cũng đã là một điều may mắn, cho dù hơi muộn, để hiểu thêm về một đồng nghiệp hào kiệt, người đàn anh đáng kính. (Đọc “Nghề cười”, hợp tuyển truyện ngắn, tạp văn, thơ, hí họa, biếm họa của Chóe. NXB Văn hóa Văn nghệ TPHCM, 2013).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét